Khi hai hay nhiều người cùng góp tiền, tài sản hoặc công sức để làm một việc, cùng hưởng lời và cùng chịu trách nhiệm, mà không lập công ty, Bộ luật Dân sự 2015 gọi quan hệ đó là hợp đồng hợp tác. Hợp đồng hợp tác phải lập thành văn bản. Tài sản các bên góp và tài sản tạo ra từ việc làm ăn chung là tài sản chung theo phần của những người góp.
Rất nhiều chuyện làm ăn nhỏ giữa người thân, bạn bè rơi đúng vào dạng này: góp tiền mở quán cà phê, cùng thuê đất trồng cây, chung tiền mua một chiếc xe tải chở hàng, mở lớp dạy thêm. Thường không ai nghĩ mình đang ký "hợp đồng hợp tác"; chỉ đến khi có chuyện mới cần biết ai có quyền gì. Bài này giải thích khung pháp lý đó bằng ngôn ngữ thường ngày.
Bộ luật Dân sự nói gì về hợp đồng hợp tác
Bộ luật Dân sự 2015 dành một phần riêng cho hợp đồng hợp tác, bắt đầu từ Điều 504. Theo đó, hợp đồng hợp tác là sự thoả thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm. Hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản.
Ba chữ "cùng" là chìa khoá: cùng góp, cùng hưởng, cùng chịu. Nếu một người chỉ đưa tiền cho người kia và hẹn lấy lại kèm một khoản lời cố định bất kể làm ăn ra sao, đó gần với cho vay hơn là hợp tác. Nếu một người làm thuê cho người kia và nhận lương, đó là quan hệ lao động hoặc dịch vụ. Phân biệt ngay từ đầu giúp tránh tình huống người đưa tiền nghĩ mình là "chủ nợ", còn người cầm tiền nghĩ đó là "vốn chung, lỗ thì cùng chịu".
Luật cũng nêu các nội dung chủ yếu mà hợp đồng hợp tác nên có, gồm mục đích và thời hạn hợp tác; thông tin các thành viên; tài sản đóng góp; phương thức phân chia hoa lợi, lợi tức; quyền và nghĩa vụ của thành viên và của người đại diện nếu có; điều kiện tham gia và rút khỏi; điều kiện chấm dứt hợp tác.
Làm ăn chung theo hợp đồng hợp tác khác lập hộ kinh doanh, công ty ở đâu
Nhiều người phân vân giữa việc chỉ ký giấy với nhau hay đăng ký thành một hình thức kinh doanh. Bảng dưới đây so sánh theo nguyên tắc chung; quy định đăng ký kinh doanh và thuế cụ thể bạn đối chiếu văn bản hiện hành hoặc hỏi cơ quan đăng ký.
| Tiêu chí | Hợp đồng hợp tác giữa cá nhân | Hộ kinh doanh / công ty |
|---|---|---|
| Có tư cách riêng không | Không; các thành viên tự đứng tên giao dịch | Công ty có tư cách pháp nhân; hộ kinh doanh do chủ hộ đại diện |
| Giấy tờ cần có | Văn bản thoả thuận giữa các thành viên | Giấy chứng nhận đăng ký theo thủ tục của cơ quan đăng ký kinh doanh |
| Ai đứng tên tài sản, hợp đồng với bên ngoài | Một hoặc vài thành viên theo thoả thuận | Công ty, hoặc chủ hộ kinh doanh |
| Trách nhiệm với nợ bên ngoài | Bằng tài sản chung, thiếu thì bằng tài sản riêng của thành viên | Tuỳ loại hình; công ty trách nhiệm hữu hạn giới hạn trong phần vốn góp |
| Phù hợp khi | Việc nhỏ, thời gian ngắn, ít người, cùng tin nhau | Kinh doanh thường xuyên, có thuê người, có hoá đơn, quy mô lớn dần |
Một điểm hay bị bỏ qua: nếu việc làm ăn chung thực chất là kinh doanh thường xuyên, có thể vẫn phải đăng ký kinh doanh và kê khai thuế theo quy định, dù giữa các thành viên chỉ có hợp đồng hợp tác. Hợp đồng hợp tác giải quyết quan hệ nội bộ, không thay thế nghĩa vụ với nhà nước. Phần thuế nên hỏi cơ quan thuế hoặc người làm nghề.
Tài sản chung theo phần: ai đứng tên cũng chưa chắc là của người đó
Tài sản góp và tài sản tạo ra là của chung. Tiền mỗi người góp, máy móc mua bằng tiền góp, hàng hoá nhập về, khoản lời chưa chia đều là tài sản chung theo phần của các thành viên, trừ khi thoả thuận khác.
Đứng tên không đồng nghĩa với sở hữu riêng. Chiếc xe tải mua chung có thể chỉ đứng tên một người trên giấy đăng ký. Giữa các thành viên, chiếc xe vẫn là tài sản chung theo phần; người đứng tên chỉ là người đại diện về giấy tờ. Hợp đồng hợp tác và chứng từ góp tiền là căn cứ chứng minh điều đó.
Định đoạt tài sản lớn cần sự đồng ý chung. Theo nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, việc định đoạt các tài sản như quyền sử dụng đất, nhà, xưởng, tư liệu sản xuất phải có thoả thuận bằng văn bản của tất cả thành viên; tài sản khác có thể do người đại diện quyết định nếu không có thoả thuận khác. Ghi rõ điều này trong hợp đồng giúp tránh cảnh một người tự ý bán máy.
Chưa chấm dứt hợp tác thì chưa chia tài sản. Nguyên tắc chung là không chia tài sản chung trước khi chấm dứt hợp đồng hợp tác, trừ khi tất cả thành viên đồng ý. Người muốn lấy lại phần mình giữa chừng phải đi theo đường rút khỏi hợp đồng.
Nợ với người ngoài: ai phải trả
Khi làm ăn chung nợ tiền nhà cung cấp, nợ tiền thuê mặt bằng hay gây thiệt hại cho người khác, câu hỏi đầu tiên là ai đã ký hoặc đứng ra giao dịch. Nếu giao dịch đó được xác lập vì việc hợp tác, theo đúng quyền đại diện mà các thành viên giao, thì đó là nghĩa vụ chung của các thành viên.
Bộ luật Dân sự đặt nguyên tắc: các thành viên hợp tác chịu trách nhiệm dân sự chung bằng tài sản chung; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng theo phần tương ứng với phần đóng góp của mình, trừ khi hợp đồng hoặc luật có quy định khác. Nói cách khác, không lập công ty thì không có "lá chắn" trách nhiệm hữu hạn; nợ của việc làm ăn chung có thể đi vào tài sản riêng của từng người.
Ngược lại, nếu một thành viên tự ý vay mượn, ký hợp đồng vượt ngoài phạm vi được giao hoặc vì việc riêng, nghĩa vụ đó trước hết là của chính người ký. Vì vậy hợp đồng hợp tác nên ghi rõ ai được đại diện giao dịch, trong giới hạn số tiền nào, việc gì phải hỏi ý kiến cả nhóm.
Ví dụ giả định: ba người góp mở một quán cơm
Anh Bình, chị Hạnh và anh Lộc ở Cần Thơ quyết định mở một quán cơm trưa. Anh Bình góp tiền mua bếp, bàn ghế; chị Hạnh góp tiền thuê mặt bằng sáu tháng đầu; anh Lộc không góp tiền nhưng là người nấu chính và đứng bếp hằng ngày. Hợp đồng thuê mặt bằng do chị Hạnh ký vì chị quen chủ nhà.
Nếu ba người không có giấy tờ gì giữa họ, mọi câu hỏi về sau đều mở: bếp và bàn ghế là của anh Bình hay của chung? Anh Lộc góp công thì được chia lời bao nhiêu, có phải chịu lỗ không? Khi quán nợ tiền thịt cá, chủ hàng đòi ai? Chị Hạnh có quyền tự chấm dứt hợp đồng thuê mặt bằng không?
Nếu có một văn bản hợp tác, dù chỉ hai trang, ghi phần góp của từng người quy ra giá trị, cách tính công của anh Lộc, ai được nhập hàng và nhập tối đa bao nhiêu, ai đứng tên hợp đồng thuê và việc chấm dứt thuê phải được cả ba đồng ý, cách chia lời theo tháng, thì phần lớn những câu hỏi trên đã có câu trả lời trước khi chúng thành tranh chấp.
Những nội dung nên có trong văn bản hợp tác giữa người quen
Không có một mẫu hợp đồng hợp tác "chuẩn" cho mọi việc. Dưới đây là các nội dung nên có để khi có chuyện, giấy tờ trả lời được câu hỏi thay cho trí nhớ của từng người.
- Mục đích cụ thể và thời hạn: mở quán gì, ở đâu; làm vụ mùa nào; hợp tác trong bao lâu, hết hạn thì gia hạn thế nào.
- Phần góp của từng người: tiền bao nhiêu, góp lúc nào; nếu góp tài sản hay công sức thì quy ra giá trị bao nhiêu và theo cách nào.
- Người đại diện giao dịch với bên ngoài, giới hạn quyền, việc gì phải được cả nhóm đồng ý.
- Cách ghi chép thu chi, ai giữ sổ, bao lâu đối chiếu một lần, thành viên có quyền xem sổ.
- Cách chia lời và gánh lỗ, thời điểm chia.
- Điều kiện rút khỏi hợp tác, cách tính phần được nhận lại, điều kiện nhận thêm người mới.
- Cách xử lý tài sản khi chấm dứt hợp tác, và cách giải quyết bất đồng (ngồi lại, nhờ hoà giải, rồi mới tính chuyện kiện).
Ở các bài khác trong chuyên mục này có phần riêng về chia lời chịu lỗ, góp công thay tiền, rút vốn và tài sản bị bán tự ý. Ở đây bạn chỉ cần nhớ rằng mỗi dòng trên đều là một câu hỏi sẽ được đặt ra nếu việc làm ăn có chuyện.
Khi nào nên nhờ người làm nghề xem trước
Với việc nhỏ giữa người thân, một văn bản do chính các bên viết, rõ ràng và đủ các nội dung trên, đã tốt hơn rất nhiều so với không có gì. Nhưng nên có ý kiến luật sư trước khi ký khi: số tiền góp lớn so với tài sản của gia đình; có góp quyền sử dụng đất, nhà xưởng; có người góp là người nước ngoài hoặc doanh nghiệp; việc làm ăn có thuê lao động, cần giấy phép con; hoặc hợp tác kéo dài nhiều năm.
Những tình huống đó kéo theo các câu hỏi về hình thức văn bản, có cần công chứng hay đăng ký gì không, nghĩa vụ thuế, trách nhiệm với người lao động. Một buổi trao đổi với luật sư về mô hình làm ăn cụ thể sẽ giúp bạn biết nên giữ dạng hợp đồng hợp tác hay chuyển sang một hình thức đăng ký kinh doanh phù hợp hơn.
Câu hỏi thường gặp
Góp vốn làm ăn chỉ bằng lời nói có giá trị không?
Bộ luật Dân sự yêu cầu hợp đồng hợp tác lập thành văn bản. Khi không có văn bản, việc chứng minh ai góp bao nhiêu, thoả thuận chia lời thế nào trở nên rất khó, và hệ quả pháp lý của việc vi phạm hình thức được bàn ở chuyên mục về hiệu lực hợp đồng. Thực tế, nên lập văn bản ngay từ đầu.
Hợp đồng hợp tác giữa cá nhân có phải công chứng không?
Nguyên tắc chung không bắt buộc, trừ khi pháp luật yêu cầu đối với loại tài sản hay giao dịch cụ thể, ví dụ có liên quan quyền sử dụng đất. Khi góp tài sản phải đăng ký, nên hỏi trước cơ quan công chứng hoặc luật sư.
Một người góp vốn, người kia đứng tên hộ kinh doanh thì người góp có quyền gì?
Giữa hai người, quyền của người góp dựa trên hợp đồng hợp tác và chứng từ góp tiền. Với bên ngoài, hộ kinh doanh đứng tên người đăng ký. Vì vậy người góp cần văn bản rõ ràng để chứng minh phần của mình khi có tranh chấp.
Có thể thêm người mới vào việc làm ăn chung không?
Có, nếu các thành viên hiện có đồng ý theo điều kiện đã thoả thuận. Nên lập phụ lục ghi phần góp của người mới, thời điểm tham gia và việc họ có cùng chịu các khoản nợ phát sinh trước đó hay không.
Làm ăn chung có phải nộp thuế không?
Hoạt động kinh doanh có doanh thu thì phải xem xét nghĩa vụ thuế theo quy định, bất kể giữa các thành viên chỉ có hợp đồng hợp tác. Cách kê khai, ai đứng ra kê khai là câu hỏi nên đặt cho cơ quan thuế hoặc người làm nghề.
Hợp đồng hợp tác chấm dứt khi nào?
Thường là khi hết thời hạn, khi mục đích đã đạt được, khi các thành viên thoả thuận chấm dứt, hoặc theo các trường hợp khác luật quy định. Khi chấm dứt, các bên thanh toán nợ chung rồi chia phần tài sản còn lại theo thoả thuận.